Big Oil: Gồng mình với những mâu thuẫn hiện hữu

03:00 | 31/08/2021

Theo dõi Kinh tế Xây Dựng trên
|
Một ngành công nghiệp dầu mỏ mạnh đảm bảo cho các quốc gia có cơ hội việc làm, doanh thu lớn và sức mạnh địa chính trị. Tuy nhiên, nỗ lực hạn chế thăm dò dầu khí gần đây đã biến đặc quyền này phần nào trở thành gánh nặng.
Big Oil: Gồng mình với những mâu thuẫn hiện hữu
Ngành công nghiệp dầu mỏ sẽ hoạt động như thế nào trong những thập kỷ tới khi các chính phủ nỗ lực vì màu xanh trong khi quản lý nhu cầu liên tục đòi hỏi. Ảnh minh họa. https://kinhtexaydung.petrotimes.vn

Chính phủ ở các quốc gia giàu dầu mỏ lâu đời nhất trên thế giới đang bị phản đối vì các quyết định của họ về dầu và khí đốt so với các giải pháp thay thế tái tạo.

Nguồn tài nguyên thiên nhiên được thèm muốn một thời hiện đang là một câu hỏi gây tranh cãi lớn. Nhưng ngành công nghiệp dầu mỏ sẽ hoạt động như thế nào trong những thập kỷ tới khi các chính phủ nỗ lực vì màu xanh trong khi quản lý nhu cầu liên tục đòi hỏi về nhiên liệu hóa thạch để cung cấp năng lượng cho thế giới?

Điều này càng trở nên trầm trọng hơn trong đại dịch Covid-19, khiến nhu cầu dầu và khí đốt trên toàn cầu giảm xuống, điều này khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch có bao giờ trở lại mức trước đại dịch hay không?

Vào năm 2021, các tổ chức quốc tế như IEA và IPCC của Liên Hợp Quốc đã thúc đẩy ý tưởng khử carbon và nhu cầu hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, coi nhu cầu tạm dừng từ năm 2020 là bước đệm hữu ích để hướng tới việc chuyển đổi sang các giải pháp thay thế tái tạo.

Nhưng khi chính phủ của nhiều quốc gia Bắc Mỹ và châu Âu phản ứng với áp lực này, họ phải đối mặt với thách thức liên tục về nhu cầu ngày càng tăng đối với dầu và khí đốt khi các hạn chế của Covid được dỡ bỏ và người dân quay trở lại làm việc và đi du lịch, cũng như sự chuẩn bị kỹ càng đáng kể của ngành năng lượng tái tạo.

Với nguồn cung hạn chế và giá cả tăng cao, các chính phủ đang bị sa thải vì làm quá ít để ứng phó với biến đổi khí hậu và không cung cấp đủ năng lượng giá rẻ cho thị trường trong thời điểm kinh tế khó khăn.

Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Joe Biden đã quay ngoắt 180 độ đối với các lựa chọn năng lượng của người tiền nhiệm bằng cách tham gia lại Thỏa thuận Paris, hủy bỏ việc phát triển đường ống quan trọng và ngừng đấu giá khoan trong vòng 6 tháng đầu tiên cầm quyền. Đây là một phần trong chính sách tranh cử của ông nhằm coi trọng vấn đề biến đổi khí hậu hơn.

Tuy nhiên, có một mâu thuẫn khi Biden tìm đến OPEC+ để xin cung cấp thêm sản lượng dầu mỏ, sau khi cắt giảm các hoạt động phát triển quốc gia và việc mở rộng thêm dầu ở Bắc Mỹ.

Tương tự như vậy, chính phủ Vương quốc Anh đã công bố mục tiêu giảm phát thải carbon ròng vào năm 2050, đáp ứng các lời kêu gọi quốc tế về khử carbon. Tuy nhiên, chính phủ vẫn đang tiếp tục phát triển các Dự án Biển Bắc, với nhiều ý kiến ​​làm nổi bật bản chất đạo đức giả của những hành động này.

Việc di chuyển tiềm năng khỏi nhiên liệu hóa thạch có ý nghĩa đặc biệt đối với Scotland khi các câu hỏi xung quanh sự độc lập sau Brexit lại nổi lên, nhưng với sự hỗ trợ tài chính nào? Dầu ở Biển Bắc đã thúc đẩy phong trào độc lập của Scotland kể từ những năm 1970, nhưng phong trào rời xa nhiên liệu hóa thạch có thể làm mất cơ hội này.

Ngoài ra, trong khi phần lớn công chúng Anh đang kêu gọi hành động nhiều hơn đối với biến đổi khí hậu, nhiều người Scotland đang đặt câu hỏi về sự chuẩn bị của Vương quốc Anh cho cuộc sống không sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Hiện tại, năng lượng tái tạo chỉ cung cấp trung bình 30% nhu cầu điện hiện tại, có nghĩa là nếu cả nước chuyển sang sử dụng điện tái tạo thuần túy, các hộ gia đình sẽ phải giảm mức sử dụng điện 70%.

Trong khi đó, Na Uy tiếp tục ủng hộ lĩnh vực dầu mỏ mạnh mẽ của mình khi nước này cũng phát triển một chương trình năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới. Na Uy tạo ra một số mức phát thải carbon cao nhất trên thế giới thông qua các hoạt động khai thác dầu khí ở nước ngoài, trong khi ở cấp quốc gia, Na Uy hầu như chạy hoàn toàn bằng năng lượng tái tạo.

Đây có lẽ là ví dụ điển hình nhất về quản trị tốt, ít nhất là Na Uy dường như đang theo đuổi thành công các phát triển dầu khí để mang lại doanh thu sẽ được đầu tư phần lớn vào lĩnh vực phi dầu mỏ, đồng thời dẫn đầu thế giới về sự chuyển đổi năng lượng.

Vì vậy, làm thế nào để các chính phủ ứng phó với áp lực từ các tổ chức quốc tế, cử tri và các nhà bảo vệ môi trường trên toàn thế giới trong khi duy trì nền kinh tế quốc gia và mức độ việc làm - một số trong số đó tiếp tục dựa vào nguồn thu năng lượng, cũng như đáp ứng nhu cầu liên tục về nhiên liệu hóa thạch trong thời gian chuyển đổi dài hạn sang các giải pháp thay thế có thể tái tạo?

Người lao động, các nhà đầu tư và các hãng dầu lớn đang chỉ trích các chính phủ vì đã rời bỏ dầu mỏ quá nhanh, trước khi thế giới sẵn sàng cho năng lượng tái tạo, với dân số ngày càng tăng và các ngành công nghiệp tiếp tục dựa vào nhiên liệu hóa thạch. Trong khi các nhà bảo vệ môi trường và các tổ chức quốc tế chỉ trích các chính phủ phương Tây vì tiến độ chậm chạp trong Thỏa thuận Paris và các mục tiêu khử cacbon.

Một cách mà chúng ta đang thấy các chính phủ đối phó với áp lực từ cả hai phía là phát triển công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), trong nỗ lực giảm lượng khí thải carbon từ ngành dầu khí và khuyến khích sử dụng CCS để phát triển các dự án hydro.

Nhưng khi thách thức ngày càng gia tăng, các chính phủ vẫn còn trong tình trạng lấp lửng. Liệu họ có nên hợp tác với Big Oil để khuyến khích quá trình khử cacbon thông qua đầu tư nhiều hơn vào CCS và các công nghệ khác, đồng thời tiếp tục sản xuất tốt nhiên liệu hóa thạch trong những thập kỷ tới. Hay họ nên gọi đó là từ bỏ và đẩy các khoản đầu tư của họ sang các giải pháp thay thế có thể tái tạo? Có vẻ như, hiện tại cần có sự cân bằng giữa hai bên và các chính phủ trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu, chắc chắn sẽ phải đối mặt với những lời chỉ trích từ cả hai bên trong tương lai gần.

https://kinhtexaydung.petrotimes.vn

ChiVy

sao-thai-duong