eurowindow

Hà Nội nghiên cứu cơ chế phân chia lợi ích từ tín chỉ carbon

14:31 | 15/09/2026

Theo dõi Kinh tế Xây Dựng trên
|
Với các tín chỉ carbon hình thành từ đất công, rừng, cây xanh, mặt nước, công trình công, dữ liệu và hạ tầng thuộc khu vực Nhà nước, Hà Nội sẽ nghiên cứu cơ chế xác định quyền sở hữu và phân chia doanh thu, lợi ích từ hoạt động chuyển nhượng.

Ngày 14/9, UBND thành phố Hà Nội ban hành quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành chỉ đạo triển khai, đôn đốc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ liên quan đến kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải khí nhà kính và tham gia thị trường carbon trên địa bàn thành phố. Việc thành lập tổ công tác cho thấy Hà Nội đang chuyển từ định hướng giảm phát thải sang bước tổ chức thực hiện cụ thể, trong đó thị trường carbon được đặt trong mối liên hệ với quản lý tài chính, tài sản công và nguồn lực đầu tư.

Theo phân công, Sở Tài chính là cơ quan chủ trì đối với các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thuộc chức năng quản lý nhằm giảm phát thải khí nhà kính và tham gia thị trường carbon. Một trong những nội dung đáng chú ý là nghiên cứu, hướng dẫn quản lý tài chính đối với hạn ngạch và tín chỉ carbon; nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ; chi phí mua hạn ngạch, tín chỉ; cũng như chi phí, doanh thu từ các dự án sử dụng tài sản công.

Hà Nội nghiên cứu cơ chế phân chia lợi ích từ tín chỉ carbon
Hà Nội nghiên cứu cơ chế phân chia lợi ích từ tín chỉ carbon. (Ảnh minh họa)

Đặc biệt, Sở Tài chính được giao nghiên cứu việc hạch toán tài sản và quyền tài sản phát sinh từ tín chỉ carbon. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng khi tín chỉ carbon ngày càng được nhìn nhận không chỉ là công cụ môi trường mà còn có giá trị kinh tế và có thể được giao dịch trên thị trường. Khi tín chỉ được hình thành từ nguồn lực công, việc xác định chủ thể có quyền đối với tín chỉ, cách thức ghi nhận giá trị và cơ chế phân chia nguồn thu cần được làm rõ ngay từ đầu.

Hà Nội sẽ nghiên cứu xây dựng quy trình chấp thuận chủ trương phát triển các dự án tạo tín chỉ carbon có sử dụng tài sản, ngân sách và nguồn lực thuộc thẩm quyền quản lý của thành phố. Mục tiêu là bảo đảm xác định rõ quyền sở hữu tín chỉ cũng như phương thức lựa chọn đối tác tham gia dự án.

Phạm vi nghiên cứu được đặt ra khá rộng, bao gồm trường hợp tín chỉ phát sinh từ tài sản công, ngân sách hoặc nguồn lực của thành phố; đất công; rừng, cây xanh, mặt nước; nhà máy, công trình công; dữ liệu thuộc sở hữu Nhà nước; cũng như hạ tầng do doanh nghiệp nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp quản lý.

Điểm đáng chú ý là thành phố không chỉ đặt vấn đề “ai sở hữu” tín chỉ mà còn nghiên cứu nguyên tắc và cơ chế phân chia doanh thu, lợi ích từ việc bán tín chỉ. Đây có thể xem là một trong những bài toán then chốt khi triển khai các dự án giảm phát thải dựa trên nguồn lực công.

Về nguyên tắc, khi tài sản hoặc nguồn lực công tham gia tạo ra giá trị mới, cơ chế phân chia lợi ích cần bảo đảm hài hòa giữa Nhà nước, đơn vị quản lý tài sản và đối tác đầu tư, đồng thời tạo động lực để khu vực tư nhân tham gia các dự án giảm phát thải. Nếu cơ chế không rõ ràng, việc khai thác tiềm năng tạo tín chỉ từ tài sản công có thể gặp vướng mắc ngay từ khâu xác lập quyền và lựa chọn mô hình hợp tác.

Bên cạnh quản lý tín chỉ, Sở Tài chính còn được giao nghiên cứu cơ chế tài chính, xúc tiến đầu tư, hợp tác quốc tế, hỗ trợ và ưu đãi cho các dự án đầu tư giảm phát thải, dự án phát thải carbon thấp và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Một nội dung khác có ý nghĩa dài hạn là đánh giá tác động của giá carbon đối với thu, chi ngân sách; giá dịch vụ công; giá xử lý chất thải; giá nước; vận tải công cộng và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Điều này cho thấy thị trường carbon được đặt trong tổng thể bài toán tài chính của thành phố, thay vì chỉ được xem như một cơ chế giao dịch tín chỉ.

Trong khi đó, Tổ công tác liên ngành có nhiệm vụ phối hợp kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải và tham gia thị trường carbon. Các sở, ngành sẽ quản lý những cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải theo lĩnh vực; kiểm tra báo cáo kiểm kê và kế hoạch giảm nhẹ phát thải; đồng thời xây dựng kế hoạch giảm phát thải hằng năm và giai đoạn 2026-2030.

Thành phố cũng đặt yêu cầu nghiên cứu cơ chế cảnh báo đối với các cơ sở không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ kiểm kê, phát thải vượt hạn ngạch, có nguy cơ không đủ hạn ngạch để nộp trả hoặc tín chỉ có nguy cơ tính trùng, không đủ điều kiện giao dịch. Cơ chế này nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế rủi ro và bảo đảm kết quả giảm phát thải được ghi nhận thống nhất.

Với việc hình thành Tổ công tác liên ngành và giao Sở Tài chính nghiên cứu các vấn đề về quyền tài sản, nguồn thu và phân chia lợi ích, Hà Nội đang từng bước xây dựng nền tảng quản lý cho thị trường carbon. Trong đó, bài toán khai thác giá trị từ tài sản công đi cùng yêu cầu bảo đảm tài sản Nhà nước được quản lý minh bạch, lợi ích được phân bổ hợp lý và nguồn lực từ thị trường carbon thực sự quay trở lại phục vụ mục tiêu giảm phát thải và phát triển đô thị theo hướng xanh, bền vững.

Việt Nam đã sẵn sàng cho xây dựng thị trường các-bon?Việt Nam đã sẵn sàng cho xây dựng thị trường các-bon?
Việt Nam có thể đạt mục tiêu Net zero vào năm 2050, giảm 20% phát thải CO2 và thuế các-bonViệt Nam có thể đạt mục tiêu Net zero vào năm 2050, giảm 20% phát thải CO2 và thuế các-bon
Sẽ vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Việt NamSẽ vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon tại Việt Nam
Phát triển thị trường các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt NamPhát triển thị trường các-bon: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Đình Khương