eurowindow

Doanh nghiệp Việt trước sức ép từ “chi phí carbon”

20:13 | 08/10/2026

Theo dõi Kinh tế Xây Dựng trên
|
Carbon đang dần trở thành một phần của giá thành hàng hóa, đặc biệt khi các thị trường xuất khẩu lớn gia tăng yêu cầu về giảm phát thải. Với doanh nghiệp Việt Nam, chuyển đổi xanh không còn chỉ là câu chuyện môi trường mà đang trực tiếp gắn với năng lực cạnh tranh và khả năng giữ thị trường.
Doanh nghiệp Việt trước sức ép từ “chi phí carbon”
Giá chứng chỉ CBAM quý II/2026 được EU công bố ở mức 75,28 euro/tấn CO2.

Hơn 3 tỷ USD hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) thuộc các nhóm chịu tác động của Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Khi cơ chế này từng bước được thực thi, lượng phát thải gắn với mỗi sản phẩm sẽ ngày càng có ảnh hưởng rõ hơn đến chi phí và giá bán hàng hóa.

Theo ông Trần Ngọc Quân, Tham tán Công sứ, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU, giá chứng chỉ CBAM quý II/2026 được EU công bố ở mức 75,28 euro/tấn CO2. Với ngành thép, trung bình sản xuất một tấn thép phát sinh khoảng 2 tấn CO2. Nếu tính theo mức giá carbon nói trên, chi phí carbon về lý thuyết có thể tương đương khoảng 23% giá trị một tấn thép xuất khẩu có giá khoảng 650 euro, trong trường hợp doanh nghiệp không có giải pháp giảm phát thải hiệu quả.

Dù nghĩa vụ CBAM được thực hiện theo lộ trình và chưa khiến doanh nghiệp phải chịu toàn bộ chi phí ngay trong năm 2026, áp lực cạnh tranh đã xuất hiện. Đáng chú ý, doanh nghiệp thiếu dữ liệu phát thải đáp ứng tiêu chuẩn còn có nguy cơ bị áp dụng mức phát thải mặc định, qua đó làm gia tăng chi phí carbon.

Điều này cho thấy carbon đang chuyển từ một chỉ tiêu môi trường thành một yếu tố kinh tế. Hàng hóa có cường độ phát thải cao sẽ phải đối mặt với chi phí lớn hơn, trong khi những doanh nghiệp giảm được phát thải có thêm lợi thế về giá và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế.

Không chỉ EU, nhiều thị trường trên thế giới cũng đang hình thành các cơ chế định giá carbon. Theo số liệu được dẫn tại sự kiện, hiện có khoảng 80 thị trường carbon và cơ chế thuế carbon, bao phủ khoảng 28% lượng phát thải toàn cầu.

Khi carbon được định giá, doanh nghiệp đứng trước một phép tính mới: tiếp tục duy trì công nghệ phát thải cao hay bỏ vốn đầu tư để giảm phát thải và tiết kiệm chi phí trong dài hạn.

Theo ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ Tác động Khí hậu VinaCarbon (VinaCapital), khi chi phí carbon được tích hợp vào giá thành, đầu tư giảm phát thải không còn đơn thuần là chi phí tuân thủ. Đây trở thành bài toán trực tiếp quyết định giá thành sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Một số doanh nghiệp đã bắt đầu chuyển hướng. Fico-YTL Cement phát triển các dòng xi măng EcoCem với mức giảm phát thải khoảng 30-70% tùy sản phẩm, đồng thời tăng sử dụng nhiên liệu thay thế và dự kiến dành khoảng 300 tỷ đồng trong năm 2027 cho các giải pháp chuyển đổi.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực để thực hiện những khoản đầu tư lớn. Đây là lúc tín dụng xanh và các công cụ tài chính chuyển đổi cần phát huy vai trò.

Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển, nguồn vốn từ thị trường tài chính xanh trong nước tương đối dồi dào nhưng chưa được phân bổ nhiều cho các dự án cải tiến dây chuyền, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải trực tiếp trong khu vực sản xuất.

Một nút thắt khác là dữ liệu. Doanh nghiệp không thể giảm thứ mình chưa đo được. Việc xác định chính xác lượng phát thải là cơ sở để biết công đoạn nào cần ưu tiên đầu tư, chứng minh hiệu quả giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu của thị trường cũng như các tổ chức tài chính.

Ở cấp độ quốc gia, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hạ tầng cho thị trường carbon. Hiện có 2.166 cơ sở thuộc diện phải kiểm kê khí nhà kính, chiếm khoảng 30% tổng lượng phát thải quốc gia. Trong năm 2026, cơ quan chức năng dự kiến thí điểm phân bổ và giao dịch hạn ngạch phát thải với khoảng 150 doanh nghiệp lớn trong các ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng.

Sàn giao dịch carbon trong nước cũng đã chính thức vận hành từ ngày 29/6/2026, tạo thêm một cấu phần quan trọng cho hệ sinh thái tài chính xanh và từng bước hình thành cơ chế xác định giá carbon theo thị trường.

Từ góc độ doanh nghiệp, thách thức hiện nay vì thế không chỉ nằm ở việc đáp ứng quy định môi trường mà là biến giảm phát thải thành năng lực cạnh tranh. Đo lường chính xác, đầu tư đúng công đoạn, sử dụng hiệu quả nguồn vốn xanh và chủ động xây dựng sản phẩm có cường độ carbon thấp sẽ quyết định khả năng thích ứng với thị trường mới.

Khi carbon ngày càng được “tính tiền”, doanh nghiệp chậm chuyển đổi có thể phải trả giá bằng chi phí cao hơn và thị phần thu hẹp. Ngược lại, những doanh nghiệp sớm làm chủ dữ liệu phát thải, công nghệ và nguồn vốn xanh sẽ có cơ hội biến sức ép carbon thành lợi thế cạnh tranh trong quá trình tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mở rộng cánh cửa hội nhập quốc tế cho thị trường carbon Việt NamMở rộng cánh cửa hội nhập quốc tế cho thị trường carbon Việt Nam
Hà Nội thiết lập cơ chế liên ngành để vận hành thị trường carbonHà Nội thiết lập cơ chế liên ngành để vận hành thị trường carbon
Thị trường carbon cần sản phẩm đầu vào để hình thành và vận hànhThị trường carbon cần sản phẩm đầu vào để hình thành và vận hành

Diệu Phương