Doanh nghiệp thủy điện: Hai gam màu trái ngược
Mùa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 đã khép lại, mang đến bức tranh kinh doanh với nhiều gam màu trái ngược của các doanh nghiệp thủy điện niêm yết. Dù điện năng vẫn là ngành được kỳ vọng hưởng lợi từ nhu cầu tiêu thụ điện tăng cao trong bối cảnh kinh tế phục hồi, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp lại không đồng đều. Điều kiện thủy văn khác biệt giữa các lưu vực, khả năng điều tiết hồ chứa cũng như diễn biến của thị trường phát điện cạnh tranh tiếp tục là những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp bứt phá
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính quý II/2026, CTCP Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (DNH) tiếp tục dẫn đầu nhóm doanh nghiệp thủy điện về quy mô lợi nhuận. Quý II, doanh nghiệp ghi nhận 458 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế đạt 816 tỷ đồng, tăng 52%, bỏ xa phần lớn doanh nghiệp cùng ngành.
![]() |
| Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy sự phân hóa rõ nét trong nhóm doanh nghiệp thủy điện. |
Đáng chú ý, CTCP Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (VSH) cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực với 271 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý II, tăng 43%. Sau 6 tháng, doanh nghiệp đạt 570 tỷ đồng, tăng 17%. Theo giải trình của doanh nghiệp, mặc dù sản lượng điện thương phẩm giảm do điều kiện thủy văn tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên không thuận lợi, giá bán điện trên thị trường phát điện cạnh tranh ở mức cao hơn cùng kỳ đã giúp bù đắp phần sản lượng thiếu hụt, qua đó cải thiện doanh thu và lợi nhuận.
Một trong những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Thủy điện Hủa Na (HNA) khi lợi nhuận trước thuế quý II đạt 127 tỷ đồng. Thủy điện Thác Mơ (TMP) cũng ghi nhận kết quả khả quan với 126 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý II, tăng 26%; lợi nhuận 6 tháng đạt 201 tỷ đồng, tăng 23%.
Ở nhóm doanh nghiệp quy mô vừa, Sê San 4A (S4A) nổi bật với mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế lên tới 121% sau 6 tháng, đạt 80 tỷ đồng. Trường Thành (TTA) đạt 140 tỷ đồng, tăng 22%, trong khi Sử Pán 2 (SP2) đạt 18 tỷ đồng, tăng 41%.
Nhìn chung, nhóm doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng cao đều có điểm chung là tận dụng tốt nguồn nước trong giai đoạn đầu năm hoặc hưởng lợi từ giá bán điện trên thị trường phát điện cạnh tranh, qua đó cải thiện biên lợi nhuận dù sản lượng phát điện không phải lúc nào cũng tăng tương ứng.
Áp lực vẫn hiện hữu
Ở chiều ngược lại, không ít doanh nghiệp thủy điện ghi nhận lợi nhuận đi xuống. Bắc Minh (SBM) đạt 61 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 6 tháng, tăng nhẹ 6%, song lợi nhuận riêng quý II giảm 5%. Thủy điện Nước Trong (NTH) chỉ đạt 38 tỷ đồng, giảm 7%; Thủy điện Hương Sơn (GSM) đạt 49 tỷ đồng, giảm 8%; còn Sông Ba (SBA) đạt 64 tỷ đồng, giảm 15%.
Diễn biến kém tích cực hơn xuất hiện tại Nedi2 (ND2) khi lợi nhuận trước thuế 6 tháng giảm 23%, còn 47 tỷ đồng. Sông Vàng Hydropower (SVH) giảm 21%, xuống 25 tỷ đồng, trong khi SHP chỉ đạt 82 tỷ đồng, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước.
![]() |
| Bức tranh kinh doanh trái chiều phản ánh rõ đặc thù của ngành thủy điện. Không giống các nhà máy nhiệt điện hay điện khí, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thủy điện phụ thuộc lớn vào điều kiện thủy văn tại từng lưu vực. |
Một số doanh nghiệp ghi nhận mức giảm sâu. CHP đạt 131 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 6 tháng, giảm tới 45%. Thủy điện Buôn Đôn (BSA) chỉ đạt 22 tỷ đồng, giảm 60%, còn Đầu tư Điện lực 3 (PIC) giảm 65%, xuống còn 13 tỷ đồng. Đáng chú ý, Thủy điện Bắc Hà (BHA) chuyển từ có lãi sang thua lỗ trong nửa đầu năm 2026.
Một trường hợp đáng chú ý khác là EVN Development (VPD). Dù lợi nhuận trước thuế quý II giảm 27%, còn 64 tỷ đồng, song nhờ kết quả tích cực trong quý I, doanh nghiệp vẫn ghi nhận 102 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 6 tháng, tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ.
Bức tranh kinh doanh trái chiều phản ánh rõ đặc thù của ngành thủy điện. Không giống các nhà máy nhiệt điện hay điện khí, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thủy điện phụ thuộc lớn vào điều kiện thủy văn tại từng lưu vực. Chỉ cần lượng nước về hồ thay đổi hoặc chế độ vận hành liên hồ điều chỉnh, sản lượng phát điện và lợi nhuận có thể biến động đáng kể.
Bên cạnh yếu tố thủy văn, thị trường phát điện cạnh tranh cũng ngày càng tác động mạnh đến kết quả kinh doanh. Những doanh nghiệp có khả năng tối ưu thời điểm phát điện, tận dụng các giai đoạn giá điện trên thị trường tăng cao sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động. Trường hợp của Vĩnh Sơn - Sông Hinh là minh chứng rõ khi doanh nghiệp vẫn tăng trưởng lợi nhuận dù sản lượng điện thương phẩm giảm gần 12%.
Triển vọng của nhóm thủy điện trong nửa cuối năm vẫn phụ thuộc nhiều vào diễn biến thời tiết trong mùa mưa và nhu cầu huy động của hệ thống điện quốc gia. Nếu lượng nước về các hồ chứa được cải thiện, nhiều doanh nghiệp có thể tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Ngược lại, trong trường hợp điều kiện thủy văn không thuận lợi, khoảng cách về hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp sở hữu hồ chứa lớn với những đơn vị phụ thuộc nhiều vào dòng chảy tự nhiên có thể sẽ còn nới rộng hơn. Điều này cho thấy sự phân hóa trong ngành thủy điện không chỉ là hiện tượng nhất thời mà đang trở thành xu hướng ngày càng rõ nét trong bối cảnh thị trường điện vận hành theo cơ chế cạnh tranh và yêu cầu tối ưu hóa hiệu quả khai thác ngày càng cao.
ĐK
- Gelex báo lãi quý II cao kỷ lục, hoàn thành 72% kế hoạch lợi nhuận năm
- Khởi công dự án điện mặt trời áp mái có công suất 2,5 MWp
- Chi tiết gây chú ý trong báo cáo tài chính SJC: 170.876 viên đá chỉ hơn 1 tỷ đồng
- PC1 có tân Chủ tịch HĐQT sinh năm 1999
- Vietfood & Beverage 2026: Cơ hội để doanh nghiệp F&B bứt phá chuỗi cung ứng và xuất khẩu



